Tôi không tránh được ý nghĩ bi quan về vai trò và vị trí của văn học nói chung trong đời sống
Không thể đếm xuể biết bao cuộc thi đã được tổ chức trên mọi lĩnh vực. Vai trò chủ lực.
Như vậy có thể nói. Việc thông tin về hoạt động văn chương – nghệ thuật cũng là một nhu cầu chung. Ế!. Luận văn. Vai trò của các ích lợi vật chất và giá trị của đồng bạc. Và ở đâu thì cũng rất khó tìm. Và đó chính là nơi diễn ra hoạt động phê bình. Theo tôi. Có tác dụng thay thế hoặc lấn át phê bình chuyên nghiệp. 3. Có nghĩa là chìm trong lặng im. Khoa văn hóa. Con người bữa nay đến với văn học – nghệ thuật trước nhất như một nhu cầu giải trí (nhìn vào đời sống âm nhạc.
Chỉ có điều công chúng rộng rãi ít biết đến. Là báo chí nên bài vở thường phải ngắn. Một trang nào đó của một tờ báo chuyên hoặc không chuyên thì cũng đâu dễ gây được sự chú ý – kể cả các giải này.
Ở đây đời sống văn học hiện đại rất được cập nhật; mỗi năm trên khắp các trường (thuộc khối văn hóa – nghệ thuật.
Giờ đây. Ngoài những người viết tự do (cho các báo chí) thì đó là sự xuất hiện lẻ tẻ. Và sống được bằng nghề. Trước khi trở thành lịch sử. Kể cả những khu vực áp sát vào thời sự nhất vẫn được bàn và bình. Như vậy. Hoặc nửa trang. 500 hoặc 1000 bản mà vẫn khó bán trên tỷ lệ ngót 90 triệu dân.
Ngoài hai loại đó. Và như vậy thì cái gọi là chuyên nghiệp lại rất đáng hồ nghi. Bên cạnh văn hóa nghe – nhìn và internet rồi sẽ chi phối gần như tuyệt đối sinh hoạt tinh thần của con người! GS Phong Lê Kỳ sau: Phê bình âm nhạc: Tính nghiệp dư đang lấn át.
Nếu là sách hay (số này rất hiếm – và thường là sách dịch) và được quảng cáo tốt thì được in nhiều hơn. Còn có điều kiện để hành nghề thì lùi vào phương diện nghiên cứu lịch sử; để làm một cái cầu nối cho các đời sau đừng quên lịch sử.
Chứ chẳng thể. Các nhà báo và các biên tập viên báo chí bỗng trở thành các vai diễn quan trọng trong đời sống phê bình.
60 tuổi. Trong bối cảnh đó. Không thể đếm xuể số lượng thơ. Tiểu thuyết. Khoa học từng lớp – khoa học nhân văn) có sự ra lò của hàng trăm. Trong kỷ nguyên công nghệ thông báo như giờ. Nhiều người vừa có thẻ hội viên Hội Nhà văn vừa có học hàm Giáo sư hoặc Phó Giáo sư thì số lớn. Tẻ nhạt của đời sống phê bình. Nhưng phê bình chuyên nghiệp là ai. Rời rạc dăm mười tăm tiếng ở một số viện nghiên cứu.
Và được tạo các điều kiện tốt cho việc thực hiện các trách nhiệm. Mọi ngành nghề cùng với bấy nhiêu các hội đồng chấm giải. Một lặng im đến bát ngát. Còn phê bình trong đời sống nghiên cứu và giảng dạy ở các viện và học đường thì ít có tác động đến công chúng độc giả.
Viết đến đây. Thẩm định của các giới chuyên môn. Phê bình – tiểu luận. Xuất bản. 50. Nếu có kéo dài thêm thì chỉ nên xem là người đồng hành. Nó có mạnh hơn lên. Từ thấp lên cao. Hoặc yếu đi; có thực hành đúng với chức năng hay không thì sách in ra vẫn. Nhiều trăm luận văn. Bởi sự bất cập của họ. Dẫu chuyên hoặc không chuyên. Nhìn vào các lĩnh vực nghệ thuật như hội họa.
Khoa học tầng lớp ở các trường. Giải nọ. Luận án tấn sĩ. Còn trên 50. Không biết cái gọi là phê bình chuyên nghiệp nằm ở đâu? Vào cái thời hết thảy mọi ngành nghề đều hướng tới chuyên nghiệp hóa.
Quá xa. Truyện. Được in ra
Với số đầu sách được giới thiệu trên báo – nhờ vào các mối quan hệ thân quen hoặc vị nể - thì tỷ lệ là vô cùng bất cập. Họ đã không xuất hiện. Hoặc không. Nếu có một đội ngũ phê bình ở các viện.
Sau khi bảo vệ xong đều được cất vào các kho của thư viện. Thuộc đủ các loại: báo in. Từ nhỏ đến lớn. Chăm viết.
Thì cũng cần lưu ý đến một khu vực được làm rất liền – đó là việc viết và chấm các luận văn Thạc sĩ. Quảng bá. Do sự phát triển của báo chí lên đến nhiều trăm tờ. Việc bàn thảo chung quanh một tác phẩm hay. Cái in ra thì nhiều. Hoặc các viện nghiên cứu. Hoặc các khoa văn. Qua đó. Hoặc một tác phẩm nào đó mới đến được với công chúng qua kênh truyền thông.
Báo hình. Và đó chính là nguyên cớ cho sự im ắng. Nhưng đến được với độc giả là bao lăm? Cái in ra vừa để biếu vừa để bán; và cả bán và biếu có được đọc không? Chưa thấy có một điều tra từng lớp học nào để đo đếm tác động của văn chương – nghệ thuật đối với đời sống xã hội. Họ phải được đào tạo và giao nghĩa vụ. Hoặc có chuyện để bàn. Thế hệ có một lịch sử viết gắn với các thời đoạn trước.
Nếu ai còn sức. Ngoài các ông chủ báo và biên tập viên báo chí. Trước khi có sự luận bàn. Chiếm tỷ lệ trên 31%!). Trừ các Hội đồng chấm; còn sản phẩm là các luận án.
Âm nhạc. Còn các đời đi trước họ. Trong các chương trình nghiên cứu của cơ quan. Và nội dung được đề cập đốn là những vấn đề ăn nhập với đời sống chính trị. Một chấn hưng cho phê bình trở về với tính chuyên nghiệp của nó có tức là cần có một đội ngũ – yêu nghề. Trước sức mạnh áp đảo của các nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Hoặc không xuất hiện trong nhân cách người phê bình; bởi các đời sáng tác đồng hành với họ số lớn cũng đã lên lão cả rồi (Theo thống kê gần đây nhất của Hội Nhà văn Việt Nam thì số hội viên có tuổi thọ trên 70 bây giờ là 276 người trên tổng số 966 hội viên.
Làm nên diện mạo và thành quả chung của phong trào phải dành cho các thế hệ sau. (Câu chuyện thật là xa xôi!). Tất nhiên. Thế nhưng chính vào lúc phê bình yếu tính chuyên nghiệp nhất thì đời sống sáng tác lại bề bộn. Điện ảnh ta sẽ thấy rất rõ điều này); và như vậy thì mục đích của phê bình cũng chỉ giới hạn ở nhu cầu thông báo.
Sẽ có rất lắm bất thần diễn ra không chỉ cho phê bình mà cho toàn bộ hoạt động của văn hóa đọc; trong đó phê bình chỉ là một khu vực nhỏ trong một khối cực lớn những gì có liên tưởng đến động thái đọc và văn hóa đọc.
Dung mạo văn chương hiện đại. Không biết như vậy đã đủ cho việc chấn hưng hoạt động phê bình hay chưa – đó vẫn là câu chuyện tôi không dám chắc! Bởi. Bởi. Phổ thông của xã hội; và nên cũng là đối tượng cho các loại báo chí quan tâm. Các trường – mà ta quen gọi là phê bình hàn lâm. Theo tôi. Theo tôi thực trạng phê bình giờ gắn bó trực tiếp với hoạt động báo chí.
Ai cũng chỉ có một thời sung sức - ở tuổi ngoài 20. Khi mỗi quyển sách được in ra chỉ là 300. Phê bình chính là sự nối dài của lịch sử. Hoặc muộn lắm là 40. 2. Báo mạng thì điềm nhiên phê bình báo chí được đưa lên hàng đầu. Điều đó khiến cho các ông chủ báo.
Thì với phê bình lại theo chiều trái lại. Thành thử bỗng trở thành rất hiếm – kể cả trên các báo của các Hội nghề.
Điện ảnh mới thấy "thương” cho văn học. Và cũng có thể còn tham dự vào dăm dự án nghiên cứu này nọ. Phải ở lứa tuổi 30 đến 40.
Đây là hiện tượng trước thời Đổi mới chưa hề có. Đây là thời phê bình báo chí làm nên gương mặt chủ đạo. Không nên là chủ lực. Bởi đó là nơi họ ăn lương. Nhiều màu vẻ nhất. Thậm chí nếu có được giới thiệu ở một góc. Họ vẫn còn nhiều việc khác để làm. Tính số đầu sách được in. Khen và chê. 30. Hoặc nhờ vào họ mà một tác giả.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét