Dùng được kết quả công nhận tốt nghiệp trung học phổ biến làm căn cứ cho tuyển sinh của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
Thành ra phải cho các trường một “biên độ” để có thể đi sâu phát huy thế mạnh, đặc thù của họ. Trên thế giới, thí dụ Colombia, ở một số vùng có chương trình GD “Nhà trường và cà phê”, vì chưng tại các vùng này, việc trồng, chế biến, kinh doanh xuất khẩu cà phê là thế mạnh.
C Chuyển sang nền giáo dục mở, linh hoạt - Thưa ông, nội dung “phải chuyển hệ thống giáo dục cứng nhắc sang hệ thống giáo dục mở, linh hoạt bảo đảm liên thông giữa các trình độ và phương thức đào tạo” được đề án nhấn mạnh.
Có trường lại không biết tự chủ thì mình phải làm những gì, không biết phát huy trí óc tập thể, thực hành dân chủ… bởi vậy tự chủ biến thái thành ý chí của một vài người! Tự chủ của các cơ sở GD thực ra là ràng buộc rất lớn về nghĩa vụ đối với từng lớp, đối với cơ quan quản lý.
Nhưng về chủ trương thì dứt khoát phải đổi mới theo hướng thẩm tra năng lực học trò, tăng cường ứng dụng tri thức vào giải quyết tình huống, sự việc cụ thể, thiết thực, hiệu quả.
Có trường kết hợp đào tạo với các DN, vùng KT trung tâm, ngành nghề mũi nhọn rất tốt; nhưng cũng có nhiều trường chưa làm được điều đó. Về đổi mới thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, Bộ GDĐT đang tiến hành nghiên cứu rất cụ thể, căn cơ. Còn đổi mới cụ thể như thế nào, các bước thực hành ra sao thì Bộ GDĐT sẽ có nghiên cứu phương án, xin quan điểm rộng rãi của người dân; đồng thời phải tham khảo kinh nghiệm quốc tế và căn cứ trên thực tế VN.
Cụ thể ở bậc tiểu học từ 11 môn học và 3 hoạt động bây chừ giảm xuống còn từ 3-6 môn học và 4 hoạt động sau năm 2015. Ảnh: Q. Một gia đình mà bố mẹ không gương mẫu trong cách sống thì chẳng thể tác động tốt đến giáo dục hình thành nhân cách con cái. Từ trước tới nay, mỗi trường, mỗi cơ sở đào tạo thường “đóng khung” trong khuôn viên của mình, ít có sự liên thông, phối hợp với gia đình và xã hội.
Đề án xác định chương trình phải tinh giảm, căn bản, đương đại, có sự tích hợp cao ở các lớp dưới, phân hóa dần ở các lớp trên, đặc biệt là phân hóa mạnh ở 3 năm học THPT.
Một mặt của GD là quá nặng và thừa, mặt khác lại thiếu. (Đề xuất của Bộ GDĐT trong đề án đổi mới giáo dục). Đã là chương trình khung quốc gia thì hết thảy các cơ sở GD, các bậc học đều phải theo. Hiện, phải xây dựng các chương trình liên thông với nhau để khi học xong THCS cũng có thể bước sang học nghề, hoặc từ học nghề đấu phấn đấu để học lên bậc ĐH.
Nguồn lực nhà nước cho giáo dục cần tập trung cho cho các trường trọng điểm, trường sư phạm, cho những ngành nghề mà Nhà nước đặc biệt cần, cho các đối tượng chính sách, vùng miền khó khăn. Tôi lấy ví dụ: không thể đòi hỏi HS ở các vùng miền núi, vùng khó khăn phải học chương trình y sì như HS đô thị. Ông có thể cho biết sự đổi thay các nội dung này trong đề án? - Việc đổi mới chương trình SGK, thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học thì sau năm 2015 chúng ta mới thực hành.
Trong khi quốc gia chưa đủ điều kiện (và ngay cả khi đủ điều kiện) cũng đều phải chú ý đến XHH giáo dục. Tôi nhất trí với ý kiến của một số lãnh đạo các trường ĐH rằng “tự chủ thì rất mừng nhưng cũng rất lo”. Ngoài GD phổ biến, đề án đặc biệt nhấn mạnh đến GD nghề và GD đại học. Giáo dục mở cũng yêu cầu cho HS xúc tiếp với thực tiễn cuộc sống tầng lớp, chứ chẳng thể cứ mãi nhồi nhét lý thuyết suông.
Trước đây có ngành khoa học nào thì trong nhà trường có môn học đó.
Không có chiến lược phát triển dài hơi và đầu tư đúng hướng thì lâm vào hoàn cảnh này là điều tất yếu. Định hướng mà đề án hướng tới là giáo dục NCL chất lượng cao.
Đổi mới đua phải theo hướng thiết thực, hiệu quả, có thể dùng kết quả học tập THPT để làm một trong những căn cứ cho các cơ sở GD đại học tổ chức xét tuyển hoặc thi tuyển theo ngành nghề đào tạo.
Chẳng hạn cho HS đi tham quan di tích cách mạng, xúc tiếp gặp gỡ với nhân chứng lịch sử … sẽ sinh động và tốt hơn rất nhiều so với việc chỉ truyền thụ tri thức cho các em qua sách vở, không có thực tại. Đó là điểm nhấn rất quan yếu của đề án đổi mới GD lần này. Ông Bùi Mạnh Nhị - Vụ trưởng Vụ TCCB, Bộ GDĐT.
Có một thực tiễn, nhiều người cho rằng tự chủ là làm gì cũng được. Có một thực tại, trong khối giáo dục ĐH và TH chuyên nghiệp, phần nhiều các trường NCL chưa có chất lượng cao, thậm chí nhiều trường NCL chưa thực hành đúng cam kết khi thành lập, nhất là cơ sở vật chất và hàng ngũ giảng dạy. Điều đó đã dẫn đến thực tiễn: Cơ quan, DN, tổ chức chối từ hấp thụ sinh viên tốt nghiệp các trường NCL.
Đây là tư tưởng định hướng rất lớn. Có tháo gỡ khó khăn cho trường NCL? - Trong cảnh ngộ phải “vơ bèo gạt tép” cho tuyển sinh đầu vào, khó khăn đối với các trường CĐ, ĐH ngoài công lập đang rất lớn. - Xin cảm ơn ông! hiện, chương trình và SGK hiện hành buộc học sinh trong cùng một thời khắc (trong một học kỳ) phải học quá nhiều môn học và các hoạt động. Nhiều nước trên TG đã làm rồi.
Bài toán tổng thể đổi mới thi cử, tuyển sinh ĐH sẽ được đặt ra một cách căn cơ, kỹ lưỡng trong thời gian tới.
Muốn phát triển được thì cơ sở GD NCL phải hết sức chú ý nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là khối GD chuyên nghiệp và CĐ, ĐH. Dĩ nhiên, Bộ GDĐT sắp tới sẽ chú ý hơn trong khâu xác định các chỉ tiêu tuyển sinh, hoặc đổi thay phương thức tuyển sinh cho hạp.
Điều đó là sai trái. Đề án không nói bỏ thi đại học. HCM) phải gạt bớt số người đăng ký học đi, trong khi các trường khác thì HS đăng ký tuyển rất ít? Lâm vào khó khăn, bản thân các trường NCL phải tự nhìn lại mình.
Ở giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp cũng vậy. Trong đua sẽ vô cùng tránh việc rà soát trí tưởng, kiểm tra sự “trả bài” thuần túy; tăng cường khả năng áp dụng, hiểu tri thức của HS.
Không biết tự chủ, tự chủ sai qui định đã từng xảy ra, dẫn đến tình trạng đáng buồn ở một số cơ sở GD. Hiện, ở Việt Nam, phần đông vẫn cho rằng việc học tập của các em HS phụ thuộc hoàn toàn vào nhà trường. Số môn học trong chương trình phổ quát sẽ bớt đi, không thể có quá nhiều môn học như bây giờ.
Đó là điều mà bản thân công tác quản lý GD cũng như cơ sở GD NCL phải nghiêm túc nhìn, rút kinh nghiệm để chỉnh đốn. Để DN không quay lưng với sinh viên ngoài công lập - Vai trò của giáo dục ngoài công lập (NCL) đã được khẳng định.
Đổi mới SGK, thi tốt nghiệp THPT sau năm 2015 - Dư luận đang đặc biệt quan hoài tới việc đổi mới chương trình SGK, thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Vậy định hướng phát triển giáo dục NCL và giải quyết khó khăn cho khối GD này ra sao, thưa ông? - Về giáo dục NCL, Trung ương xác định phải bình đẳng với GD công lập.
Sẽ có một chương trình đào tạo khung, nhưng mỗi cơ sở đào tạo sẽ có chương trình đào tạo đặc thù riêng: Đặc thù về ngành nghề, đặc thù về mối quan hệ với các cơ sở sinh sản kinh dinh. Có bỏ kỳ thi đại học hay không? - Thưa ông, còn việc tăng cường quyền tự chủ cho các trường, nhất là trong đào tạo, thi cử? - Đề án xác định quyền tự chủ của các trường, cơ sở GD về: Bộ máy, biên chế, tự chủ về chương trình đào tạo, tự chủ về tài chính… Nhưng giải bài toán thực hành quyền tự chủ này không phải dễ dàng.
Về liên thông giữa các phương thức đào tạo, lâu nay, Chẳng hạn giữa GD phổ biến với dạy nghề, giữa trung cấp chuyên nghiệp với trung cấp nghề luôn có khoảng cách.
Sự tích hợp để gắn kết sẽ được chú trọng. - Dư luận đặt câu hỏi: Nếu giao quyền tự chủ cho các trường trong tuyển sinh, bỏ kỳ thi ĐH thì sẽ dễ dẫn đến bị động, tạo “cơ hội” cho người có tiền, trong khi khép lại cánh cổng ĐH với rất nhiều HS nghèo? Ông lý giải điều này ra sao? - Đề án khẳng định sẽ đổi mới phương thức tuyển sinh đại học theo hướng phối hợp kết quả học tập phổ biến và yêu cầu của ngành đào tạo.
Nhưng đồng thời chương trình khung đó cũng dành “phần mềm” để mỗi vùng miền, mỗi cơ sở GD có thể dựa vào đặc điểm địa phương, hay lứa tổi, tâm sinh lý học sinh… để cụ thể hóa, phát triển các chương trình đào tạo cho ăn nhập. Chương trình GD của họ ngay từ bậc trung học cơ sở đã gắn bó rất chặt với cây cà phê.
Uy tín, chất lượng đào tạo của các trường đã tạo được niềm tin cho XH chưa? Đối chiếu lại các tiêu chí mà các trường khi thành lập đã cam kết; đối chiếu thực lực với quy mô tuyển sinh, các trường đã thực hiện đúng chưa? Thị trường LĐ luôn biến động, nhưng bản thân các trường NCL lại chỉ chú trọng đến đào tạo một số nghề “hót” như: Kế toán, tài chính, nhà băng, quản trị kinh doanh… Đến khi thị trường thay đổi, thừa LĐ các ngành này thì các trường trở tay không kịp.
Chương trình học đi kèm SGK mới sau năm 2015 chủ trương giảm mạnh các đầu môn học để mỗi học kỳ HS học cùng một lúc không quá 8 môn học. Tại sao trong khi khối GD phổ quát NCL lôi cuốn rất lớn HS thì khối CĐ, ĐH lại không? Tại sao ở Hà Nội và TP HCM, HS đăng ký học ở trường NCL chất lượng cao rất khó (trường Đoàn Thị Điểm ở HN…; trường Nguyễn Khuyến, Trương Vĩnh Ký ở TP HCM…)? Chính vì các trường NCL đó đã khôn cùng chú trọng đến chất lượng đào tạo.
Trong đề án đổi mới GD, quốc gia có một số định hướng rất cụ thể cho GD NCL. Ông có thể lý giải rõ hơn điều này? - Khái niệm “mở” trong GD ở đây rất rộng, gồm mở về nội dung, về hình thức và phương thức đào tạo.
Các chương trình không liên thông với nhau. Nhu cầu đầu ra của bậc học phổ biến có cần HS phải có tri thức chuyên sâu như vậy không? GD phổ quát hiện rải ra quá nhiều môn nhưng đến khi cần phân loại, “phân luồng” HS lại quá khó để thực hành.
Quan điểm của Đảng mà cụ thể ở trong đề án này là phải đảm bảo 3 nguyên lý giáo dục được kết hợp chém: Nhà trường, gia đình và từng lớp.
HS có thể chọn lọc học các môn thể thao trong số các môn như: Chạy, điền kinh, bóng bàn, cầu lông, bóng chyền, bóng rổ, nhảy cao, bóng đá, bơi lội… Đối với các môn học về mỹ thuật, HS có thể chọn lựa học vẽ, nhạc, ca hát hay múa… Việc kiến lập một môi trường mở trong GD là vô cùng cần thiết, để tạo cho các em tiếp cận theo đúng sở thích, tạo nên hiệu quả đào tạo cao hơn, bản tính hơn.
Tuy nhiên, hiện thời phần lớn các trường NCL lại đang lâm vào tình cảnh khôn cùng khó khăn, nhất là ở bậc cao đẳng, đại học (CĐ,ĐH). Thứ hai là phải “mở” về hình thức đào tạo. Nếu đề nghị phải tăng chất lượng đào tạo, đáp ứng đủ một số tiêu chí mới cho tồn tại thì khác nào đẩy họ tới chỗ càng khó khăn hơn? quan điểm ông như thế nào? - Tôi xin đặt lại câu hỏi: Tại sao có trường NCL tiêu chuẩn tuyển sinh rất cao (trường ĐH dân lập Thăng Long- HN; trường ĐH Hoa Sen- TP.
Tỉ dụ, đay nghiến NCL cũng sẽ được hưởng các chính sách như GV công lập; sinh viên NCL cũng được hưởng các chế độ chính sách ưu tiên, ưu đãi (học bổng, con em gia đình chính sách, người có công…) như đối với các trường công lập.
Điều đó sẽ được chấn chỉnh. Trong mở về nội dung, quốc gia sẽ có chương trình khung quốc gia. Hay như việc GD thể chất, hoặc thẩm mỹ cho học sinh: chẳng thể bắt các em buộc chỉ học một số môn nhất mực, cứng nhắc mà phải cho HS được quyền chọn lọc những môn mình thích, phù hợp.
Bậc THPT từ 13 môn học và 5 hoạt động giảm xuống còn từ 3 môn học nép, 3 môn học tự chọn và 4 hoạt động (lớp 11 và lớp 12). Bậc THCS từ 13 môn học và 3 hoạt động giảm xuống còn 8 môn học và 4 hoạt động. Lộ trình thực hành liên thông phải rõ để HS không phải học lại những gì đã học ở bậc dưới; và biết muốn học tiếp lên bậc cao hơn thì phải làm gì, phải bảo đảm cần trang bị những gì? Nói tóm lại, liên thông là tạo một “sợi dây” hay đường dẫn để đi từ bậc học này đến bậc học kia, từ phương thức đào tạo này sang phương thức đào tạo khác… nhưng đích rút cuộc phải đạt tới là thực học và thực nghiệm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét